Nói về hệ thống điện

1. Cấu tạo của hệ thống điện

(1) Hệ thống điện

Theo các yêu cầu kỹ thuật và kinh tế đã được quy định.

Một hệ thống thống nhất được gọi là hệ thống điện. Hệ thống điện cũng bao gồm các rơle để đảm bảo hoạt động an toàn và đáng tin cậy.

Thiết bị tự động bảo vệ và an toàn, tự động điều độ, hệ thống thông tin liên lạc và các hệ thống phụ trợ khác (còn gọi là hệ thống thứ cấp). Nguyên lý cơ bản của hệ thống điện.

Nhiệm vụ là cung cấp cho người dùng nguồn điện đầy đủ, đáng tin cậy, chất lượng cao và giá cả phải chăng.

(2) Mạng lưới điện

Bộ phận của hệ thống điện có chức năng truyền tải, biến đổi và phân phối năng lượng điện được gọi là lưới điện. Lưới điện bao gồm lưới truyền tải và lưới phân phối.

Web.

Chức năng chính của mạng lưới truyền tải là tăng điện áp từ nhà máy điện ở xa trung tâm tiêu thụ thông qua máy biến áp và truyền tải điện đến các thiết bị tiêu thụ.

Đường dây truyền tải điện cao áp được truyền đến trạm biến áp trung tâm nằm cạnh trạm phân phối điện. Đồng thời, đường dây truyền tải này cũng kết nối các hệ thống điện lân cận và

Đó là chức năng của các trạm biến áp trung tâm liền kề.

Mạng lưới phân phối là mạng lưới điện trực tiếp phân phối điện từ trạm biến áp trung tâm đến người sử dụng. Nói chung, mạng lưới phân phối được chia thành các cấp cao.

Mạng lưới phân phối điện cao áp, trung áp và hạ áp. Tại Trung Quốc, điện áp của mạng lưới phân phối điện cao áp thường là và điện áp của mạng lưới phân phối điện trung áp là...

Điện áp của mạng lưới phân phối điện áp thấp thường là hệ thống ba pha bốn dây.

2. Đặc điểm vận hành hệ thống điện

Thứ nhất, quy mô kinh tế rất lớn. Hiện nay, quy mô tài sản của ngành điện lực Trung Quốc đã vượt quá 200 tỷ nhân dân tệ, chiếm một phần tư tổng tài sản nhà nước. Sản xuất điện ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế quốc gia.

Thứ hai là tính đồng thời, liệu năng lượng điện có thể được lưu trữ với số lượng lớn hay không, sự thống nhất của mỗi khâu là không thể tách rời, và quá trình chuyển đổi diễn ra rất nhanh. Công suất được sản xuất trong một khoảnh khắc phải bằng công suất được sử dụng trong khoảnh khắc đó, vì vậy mỗi khâu trong quá trình phát điện, truyền tải và phân phối đến người dùng đều rất quan trọng.

Thứ ba, sản xuất điện năng được tập trung và thống nhất cao độ. Cho dù có bao nhiêu nhà máy điện và công ty cung cấp điện đi chăng nữa, lưới điện phải được thống nhất về điều độ, tiêu chuẩn quản lý và phương pháp quản lý; có những yêu cầu nghiêm ngặt về sản xuất an toàn, kỷ luật tổ chức và đạo đức nghề nghiệp.

Thứ tư, tính ứng dụng. Đối tượng phục vụ của ngành điện lực rất toàn diện, liên quan đến mọi người trong toàn xã hội. Chất lượng điện năng và mức giá điện có mối liên hệ mật thiết với lợi ích của đa số người sử dụng điện.

Thứ năm, nền kinh tế quốc gia phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển ngành điện lực.

3. Điện áp định mức của hệ thống điện

Điện áp của lưới điện được phân cấp. Cấp điện áp định mức của lưới điện được nhà nước xây dựng và ban hành sau khi phân tích và chứng minh toàn diện, dựa trên nhu cầu phát triển kinh tế quốc gia, tính hợp lý của công nghệ và kinh tế, trình độ sản xuất thiết bị điện và các yếu tố khác.

Hiện nay, mức điện áp xoay chiều cao nhất ở Trung Quốc là 1000KV, được đưa vào vận hành từ Trường Trị đến Kinh Môn vào ngày 30 tháng 12 năm 2008; mức điện áp một chiều cao nhất ở Trung Quốc là cộng hoặc trừ 500KV, bao gồm tuyến Gezhouba – Thượng Hải Nam Kiều, tuyến Tianshengqiao – Quảng Châu, tuyến Quý Châu – Quảng Đông và tuyến Tam Hiệp – Quảng Đông.

Hiện nay, các mức điện áp thường dùng ở Trung Quốc bao gồm 220V, 380V, 6kV, 10kV, 35kV, 110kV, 220kV, 330kV, 500kV và 1000kV. Trong đó, đường dây điện áp 10kV trở xuống được gọi là đường dây phân phối điện, và đường dây điện áp 35kV trở lên được gọi là đường dây truyền tải điện. Ngoài ra, điện áp trên 1kV được quy định là “điện áp cao”, điện áp dưới 1kV là “điện áp thấp”, và điện áp an toàn là 36V trở xuống.

Điện áp định mức của thiết bị điện phải phù hợp với điện áp lưới điện. Trên thực tế, do tổn thất điện áp trong lưới điện, điện áp thực tế tại mỗi điểm sẽ chênh lệch so với giá trị định mức. Để đảm bảo hoạt động tốt của thiết bị điện, rõ ràng là thiết bị điện cần có dải điện áp hoạt động bình thường rộng hơn so với độ lệch cho phép của điện áp lưới. Điện áp định mức của máy phát điện thường cao hơn 5% so với điện áp định mức của lưới điện cùng cấp để bù lại tổn thất điện áp trên lưới.

Điện áp định mức của máy biến áp được chia thành điện áp cuộn sơ cấp và thứ cấp. Đối với cuộn sơ cấp, khi máy biến áp được kết nối với lưới điện, nó tương đương với tải trên lưới điện (ví dụ như máy biến áp hạ áp trong nhà máy), do đó điện áp định mức của nó bằng với điện áp của lưới điện. Khi máy biến áp được kết nối với đầu ra của máy phát điện (ví dụ như máy biến áp tăng áp trong nhà máy điện), điện áp định mức của nó phải bằng với điện áp của máy phát điện. Đối với cuộn thứ cấp, điện áp định mức của cuộn thứ cấp của máy biến áp phải cao hơn 5% so với điện áp định mức của lưới điện để tính đến tổn thất điện áp riêng (tính theo 5%) khi máy biến áp có tải. Khi khoảng cách truyền tải ở phía thứ cấp dài, tổn thất điện áp đường dây (tính theo 5%) cũng phải được xem xét. Lúc này, điện áp định mức của cuộn thứ cấp phải cao hơn 10% so với điện áp định mức của lưới điện.


Thời gian đăng bài: 27/11/2022